7 ĐỨC Phật quá khứ

1.     Đức PhậtVipassì(Tỳ Bà Thi) của kiếp quá khứ. Ngài giáng sinh tại thành Bandhumati, và chứng (đắc đạo) dưới cây Patali (Ba –bà- la), cách nay 91 kiếp. Thuở ấy nhân loại sống 8 vạn tuổi. Ngài có ba Tăng hội: một Tăng hội sáu mươi tám vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo, tất cả đều là bậc Lậu tận. Hai đệ tử đứng đầu là Khanda (Kiển Trà) và Tissa (Đề xá). Đệ tử  thị giả Tỷ-kheo tên Asoka (A-dục). 
Cha ngài là Bandhuma  (Bàn Đầu), mẹ là Bandhumati (Bàn Đầu Bà Đề),

 

2.     Đức Phật Sikhĩ(Thi Khí) của kiếp quá khứ. Ngài giáng sinh tại thành Pabhãvatĩ (Quang Huy), giác ngộ dưới gốc cây pundarika (phân-đà-ly), cách nay 31 kiếp. Thuở ấy nhân loại sống 7 vạn tuổi. Ngài cóba Tăng hội: một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội bảy vạn Tỷ-kheo, tất cả đều là bậc Lậu tận. Hai đệ tử Đứng đầu là Abhibhũ (A-tỳ-phù) và Sambhava (Tam-bà-bà). Đệ tửthị giả Tỷ-kheo tên là Khemankara (Nhẫn Hành). 
Cha ngài là  Aruna (Minh Tướng); mẫu hậu tên là Pabhãvatĩ (Quang Huy);

 

 

3.     Đức Phật Vessabhũ(Tỳ Xá)của kiếp quá khứ. Ngài giáng sinh tại thành là Anopama (Vô Dụ), giác ngộ dưới gốc cây sala (sa-la), cách nay 31 kiếp. Thuở ấy nhân loại sống 6 vạn tuổi. Ngài có ba Tăng hội: một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội bảy vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội sáu vạn Tỷ-kheo, tất cả đều là bậc Lậu tận. Hai đệ tử đứng đầu làSona (Phù-du) và Uttara (Uất-đa-la). Đệ tử thị giả Tỷ-kheo tên là Upasannaka (Tịch Diệt), Cha Ngài Suppatĩta (Thiện Đăng), mẫu hậu tên là Yasavati (Xứng Giới)

(Tham khảo:  Hòa thượng Minh Châu (dịch),Kinh Đại Bổn-Trường Bộ Kinh,NXB Tôn Giáo, 2013)

 

4.     Đức Phật Kakusandha(Câu Lưu Tôn) của kiếp hiện tại. Ngài giáng sinh tại thành Khemavatĩ (An Hòa). giác ngộ dưới gốc cây sirĩsa (thi-lợi-sa). Thuở ấy nhân loại sống 4 vạn tuổi. Ngài có một Tăng hội bốn vạn Tỷ-kheo, tất cả đều là bậc Lậu tận. Hai đệ tử đứng đầu là Vidhũra (Tỳ-lâu) và Sanjĩva (Tát-ni). Đệ tử thị giả Tỷ-kheo tên là Buddhija (Thiện Giác),. 
Cha Ngài là  là Aggidatta (Tự Đắc); mẫu thân Bà-la-môn tên là Visãkhã (Thiện Chi).

 

5.     Đức PhậtKonãgamana,(Câu Na Hàm) của kiếp hiện tại. Ngài giáng sinh tại thành Sobhavatĩ (Thanh Tịnh), giác ngộ dưới gốc cây udumbara (ô-tam-bà-la). Thuở ấy nhân loại sống 3 vạn tuổi. Ngài có một Tăng hội ba vạn Tỷ-kheo, tất cả đều là bậc Lậu tận. Hai đệ tử đứng đầu Bhiyyosa (Thư-bàn-na) và Uttara (Uất-đa-la). Đệ tửthị giả Tỷ-kheo tên là Sotthija (An Hòa). 
Cha Ngài là Yannadatta (Đạt Đức) mẫu thân Bà-la-môn tên là Uttarã (Thiện Thắng).

 

 

6.     Đức Phật Kassapa (Ca Diếp) của kiếp hiện tại. Ngài giáng sinh tại thành Baranasĩ (Ba-la-nại). giác ngộ dưới gốc cây nigrodha (ni-câu-luật-đà). Thuở ấy nhân loại sống 2 vạn tuổi. Ngài có một Tăng hội hai vạn Tỷ-kheo, tất cả đều là bậc A-la-hán.. Hai đệ tử đứng đầu là Tissa (Đề-xá) và Bhãradvãja (Bà-la-bà). Đệ tử thị giả Tỷ-kheo tên là Sabbamitta (Thiện Hữu). 
Cha ngài  là Brahmadatta (Phạm Thi) mẫu thân Bà-la-môn tên là Dhanavatĩ (Tài Chủ).

 

7.     Đức Phật Sakyamuni (Thích Ca) của kiếp hiện tại. Ngài giáng sinh tại thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), giác ngộ dưới gốc cây assattha (bát-đa-la)Nhân loại bây giờ sống 100 tuổi. Hội thuyết pháp của ngài có một Tăng hội một ngàn hai trăm năm mươi Tỷ-kheo, tất cả đều là bậc Lậu tận. Hai đệ tử đứng đầu là Sãriputta (Xá-lợi-phất) và Moggallãna (Mục-kiền-liên). Đệ thị giả Tỷ-kheo tên là Ànanda (A-nan). 
Cha ngài là Suddhodana (Tịnh Phạn); mẫu hậu của Ta tên là Mãyã (Ma-da). Ngài có con tên là La Hầu La.

Tác giả bài viết: (Tham khảo: Hòa thượng Minh Châu (dịch), Kinh Đại Bổn-Trường Bộ Kinh,NXB Tôn Giáo, 2013)