Trang nhất » Tin Tức » CHƠN LÝ

Phân Tích 52 Tâm Sở

Thứ sáu - 27/12/2013 22:10
A. Dẫn nhậpGiáo lý của đức Phật gồm có tám muôn bốn ngàn pháp môn gói gọn trong Đại Tạng kinh điển, được phân chia thành ba Tạng gồm Tạng Kinh, Tạng Luật và Tạng Luận còn gọi là tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma ).Luận tạng giúp cho chúng ta nhận thấy được pháp duyên khởi hoặc nguyên lý hình thành sự hiện hữu của tâm và sự diễn tiến hoại diệt từng sát na của chúng. Khi nói về sắc pháp, luận tạng trình bày thể trạng của sắc pháp, những duyên tạo hợp, cũng như những tiến trình sanh diệt từng sát na của lộ sắc. Không những thế, luận tạng giải thích cặn kẻ về pháp hữu vi sanh diệt, tạm bợ, vô thường giúp chúng ta nhàm chán thế sự thăng trầm luân chuyển theo dòng đời để mau tu tập đạt đến đạo quả Níp bàn- vắng lặng phiền não.Việc nghiên cứu và học Vi diệu pháp cần phải trau giồi và thông suốt. Vì thông hiểu vi diệu pháp chúng ta sẽ nhìn vạn pháp đúng theo nghĩa chân đế và không còn chấp những kiến thức sai lệch về thế gian và con người. Thông hiểu Vi Diệu Pháp giúp chúng ta có một nền tảng giáo lý căn bản. Thông hiểu Vi diệu pháp giúp hành giả tu tập dễ dàng có hiệu quả, không lẫn lộn giữa Tục đế và Chân đế.Vì chúng ta bị si mê nên tạo ra căn nghiệp và chính những nghiệp lực nầy đã lôi kéo chúng ta đi vào vòng luân hồi sanh tử. Những nghiệp căn nầy đã dẫn dắt chúng ta trong sáu nẽo luân hồi. Do đó nếu muốn hết sanh tử, thì chúng ta phải phá tan cái nghiệp nầy. Nhưng muốn dứt bỏ được cái nghiệp, thì trước hết chúng ta phải chinh phục nơi tâm mình, và phải dẹp bỏ vọng tưởng. Nhưng từ trước đến giờ chúng ta thường hay lầm vọng tưởng là tâm của mình. Chính sự lầm lẫn sai lạc này nên các vọng tưởng dẫn chúng ta ngược xuôi không biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Vậy vọng tưởng phát xuất từ đâu? Ðối với người minh mẫn sáng suốt thật sự muốn tìm chân lý, Vi Diệu Pháp là một hướng dẫn thiết yếu, vừa là một luận giải có tánh cách trí thức. Ở đây có thức ăn để bồi dưỡng tinh thần các tư tưởng gia chân chánh cũng như người hăng say nghiên cứu học hỏi nhằm tăng trưởng trí tuệ và sống cuộc sống lý tưởng. Vi diệu pháp nói về Tâm, bao gồm Tâm Vương và Tâm sở, tuy rất hệ thống nhưng quá đa dạng và phức tạp, trong phạm vi bài tiểu luận này người chỉ xin phân tích khái quát về 52 Tâm sở.Là một sinh viên đang theo học tại học viện nên sở học còn hạn hẹp, Người viết không sao tránh khỏi những thiếu xót, xin chư vị Giáo thọ chỉ giáo thêm. B. Nội dungI. Sơ lược Tạng AbhidhammaI.1. Định nghĩa từ AbhidhammaDanh từ Abhidhamma có nghĩa là giáo lý cao siêu vi diệu. Gồm có hai thành phần: Abhi là sự thù thắng, uyên thâm, sâu xa; Dhamma là giáo pháp, lời dạy của đấng giác ngộ. Do đó Vi diệu pháp là giáo lý tinh hoa của đức Phật, giáo lý này đặc thù và nhiều pháp môn hơn Kinh tạng và Luật tạng"Vi diệu" ở đây không phải ở trên phương diện giải thoát mà ở trên phương diện diễn đạt trình độ giáo lý cho chúng sinh ở mức độ cao thấp. Vì trong Kinh tạng và Luật tạng, đức Phật thuyết giảng giáo lý theo ngôn từ phổ thông, Tục đế, như: Chư thiên, Ma vương, vua, quan, đàn ông, đàn bà ... trái lại trong Luận tạng, đức Phật trình bày giáo lý theo ý nghĩa Chân đế (paramattha) như: uẩn, xứ, giới, đế... Do đó, việc phân chia Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng rất phù hợp theo trình độ nhân duyên của chúng sanh.I.2. Giới thiệu Tạng AbhidhammaTheo lịch sữ Phật Giáo thì Vi Diệu Pháp được Ðức Phật thuyết vào hạ thứ bảy tại cung trời Ðạo Lợi (Tam Thập Tam Thiên - Tāvatimsa) với mục đích là độ thân mẫu của Ngài.So với Luật tạng và Kinh tạng thì Luận tạng được trước thuật muộn hơn, bắt đầu từ lần kết tập Pháp tạng thứ III (300 năm sau khi đức Phật nhập diệt). Như vậy luận tạng được phân chia tách biệt, chất lọc tinh hoa trong kì kết tập thứ I và II.Tạng Abhidhamma là cả một sự cố gắng hệ thống hóa những lý thuyết và phương pháp tiềm tàng và rải rác trong Kinh tạng, và đặc biệt đặt những hệ thống ấy trên một bối cảnh chung và nhờ vậy giúp chúng ta có một khái niệm tổng quát và quán xuyến về đạo Phật. Chúng ta không thể lấy những điều kiện lịch sử để phán đoán giá trị của Abhidhamma, vì rất có thể những phần tử quan trọng của Abhidhamma được hình thành một lần với Kinh tạng. Phần lớn các nhà học giả đều đồng ý rằng tạng Abhidhamma được tổ chức và phát triển từ các Matrikà, nghĩa là những công thức đã có sẵn trong kinh tạng, và như vậy tạng Abhidhamma vẫn có thể được xem là tạng có tánh cách nguyên thủy. Vả lại chính trong Kinh tạng, cũng có những loại kinh hoặc bộ kinh mang nặng đặc chất Abhidhamma hơn là Kinh tạng, như kinh Sangìtisutta trong bộ Dìghanikàya và tập Niddesa trong bộ Khuddakanikàya. Khi nào Abhidhamma còn phụng sự được lý tưởng này bằng cách chỉ cho chúng ta rõ, một ít nét đại cương của tư tưởng Phật giáo, thì vấn đề tạng Abhidhamma được kiết tập sớm hay muộn không có gì quan trọng cả". II. Khái quát các loại tâm sở II.1. Định nghĩa Tâm sở (cetasika) Chữ cetasika = ceta + s + ika. Ceta là tư tưởng, sự chú ý. Cetasika (tâm sở) là: cái gì liên hợp với tư tưởng (tâm). Tâm sở là những thành phần phụ thuộc vào tâm, nương vào tâm để sanh khởi lên. Nói cách khác, tâm sở là pháp luôn luôn phối hợp (sampayoga) với tâm. Có những câu pāli giải thích “sự phối hợp” như vầy: Cetasi bhavaṃ = cetasikaṃ: Có cùng với tâm, gọi là tâm sở (đồng sanh với tâm là tâm sở). Cetasi niyuttaṃ = cetasikaṃ: Khắng khít với tâm, gọi là tâm sở. (chữ niyutti là bận rộn, vướng mắc). Avippayogavasena cetasi = cetasikaṃ: Không xa lìa nơi trú tâm nương trú, gọi là sở hữu tâm. Ngài Anuruddha (A Na Luật) nêu đặc trưng 4 sự đồng của tâm sở, Ngài muốn nhấn mạnh rằng “tâm sở phải có đủ bốn sự đồng với tâm”. Trong bốn sự đồng trên, chủ yếu là đồng sanh, đồng diệt và đồng biết cảnh, còn đồng nương vật là để xác định cõi, tức là cõi ngũ uẩn có bốn sự đồng, còn cõi Vô sắc chỉ có ba sự đồng (trừ đồng nương vật) mà thôi. Nếu Pháp tính (sabhāvadhamma) nào thiếu một trong ba sự đồng: đồng sanh, đồng diệt, đồng biết cảnh, pháp tính ấy không gọi là tâm sở. Có thể định nghĩa gọn Tâm sở (Cetasika) là: Cái gì đồng phát sanh cùng tâm vương Cái gì đồng hoại diệt cùng tâm vương Cái gì cùng có chung một đối tượng với tâm vương Cái gì đồng có chung một căn với tâm vương. II.2. Phân loại tâm sở Một tâm thức không phải là một đơn vị giản dị. Tâm thức là một sự tổng hợp phức tạp của những tâm sở hay Cetasika. Những phần tử ấy tạo thành tâm thức và sống trong và với tâm thức ấy. Có 52 tâm sở tất cả, được phân loại như sau: 7 Biến hành tâm sở (Sabbacittasàdhàrana) 6 Biệt cảnh tâm sở (Pàkinnaka) 14 Bất thiện tâm sở (Akusalacetasika) 25 Tịnh quang tâm sở (Sobhana) 52 tâm sở này phối hợp và thay chỗ cho nhau để hợp thành các tâm sai khác, phân biệt, chúng đồng sanh, đồng diệt một lần với tâm và đồng một đối tượng, một căn với tâm. Không một tâm nào có thể tồn tại mà không có tâm sở. Cả tâm và tâm sở của tâm ấy sanh và diệt đồng thời. Như vậy một tâm sở phải có đầy đủ bốn đặc tánh trên mới được gọi là tâm sở. Có một loại sắc gọi là Vinnàttirùpa (phát biểu sắc) cũng sanh diệt đồng thời với tâm, nhưng không thể gọi là tâm sở vì thiếu 2 điều kiện sau. Theo Abhidhamma, có 52 tâm sở tất cả. Trừ thọ tâm sở (Vedanà) và tưởng tâm sở (Sannà), 50 tâm sở còn lại thuộc về Sankhàra (hành uẩn). III. Phân tích 52 tâm sở III.1. Bảy tâm sở Biến hành (Sabbacittasàdhàranà) III.1.1. Xúc (Phassa). Xuất nguyên từ căn "phas", tiếp xúc. Cho đặng có sự ghi nhận hay biết của giác quan phải có ba yếu tố: thức, giác quan tương ứng, và đối tượng. Thí dụ như với nhãn thức ta thấy một vật (nhãn trần) xuyên qua mắt (nhãn căn). Khi một đối tượng phát hiện đến thức, xuyên qua một trong sáu căn thì tâm sở "Xúc" khởi sanh. III.1.2. Thọ (Vedanā). Xuất nguyên từ căn "vid", cảm thọ. Thọ là đặc tính chánh yếu của tất cả các loại tâm vương. Thọ có thể là hỷ, ưu, hay vô ký, thuộc tinh thần. Khổ và lạc, thuộc cơ thể vật chất cũng đều là thọ. Nhưng khổ hay lạc thuộc về thân không có tầm quan trọng về phương diện đạo đức. III.1.3. Tưởng (Saññā). "Saṁ" + căn "ñā", hiểu biết, nhận thức (so với chữ La Tinh "cognoscere", hiểu biết.). Ðặc tính chánh yếu của Saññā là nhận ra một vật do dấu hiệu trên vật ấy như màu xanh v.v... Nhờ Saññā ta nhận ra một vật mà trước kia tâm của ta đã có lần biết, tức tri giác xuyên qua giác quan. III.1.4. Tác Ý (Cetanā) Cả hai danh từ, Cetanā và Citta, đều xuất nguyên từ căn "cit", suy tư. Có nơi dịch danh từ Cetanā là "Tư". Ở đây xin dùng danh từ Tác Ý, trong nghĩa "ý muốn làm" hay "ý muốn, làm động cơ đưa đến hành động". III.1.5. Nhất Ðiểm (Ekaggatā) "Eka" + "agga" + "tā" = nhất điểm, trạng thái tâm gom vào một điểm, an trụ vào một đề mục, hay tập trung vào một đối tượng. III.1.6. Mạng Căn (Jivitindriya) "Jivita" = đời sống + "Indriya" = khả năng kiểm soát hay quy tắc. Gọi "jīvita", sinh mạng hay đời sống, vì nó nâng đỡ các tâm sở đồng phát sanh. Gọi "indriya", khả năng kiểm soát, hay căn, vì nó kiểm soát các tâm sở đồng phát sanh. III.1.7. Sự Chú Ý (Manasikāra) Theo nghĩa của từng chữ, là “làm trong tâm.” Quay tâm hướng về đối tượng là đặc tính chánh của danh từ. Sự chú ý giống như bánh lái của một chiếc tàu, bộ phận không thể không có để hướng tàu về đến nơi đến chốn. Tâm không có sự chú ý (manasikāra) cũng như tàu không có bánh lái. III.2. Sáu tâm sở Biệt cảnh (Pakinnakacetasika) III.2.1. Tầm (Vitakka). "Vi" + căn "takk", suy tư. Trong Tạng Kinh (Sutta Piṭaka) danh từ Vitakka được dùng trong nghĩa ý niệm, ý kiến, tư tưởng, luận lý v.v.... Trong Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka, cũng gọi Tạng Luận) danh từ nầy được dùng trong ý nghĩa đặc biệt kỹ thuật, có tánh cách chuyên môn. III.2.2. Sát (Vicāra) "Vi" + căn "car", đi thênh thang bất định. Vicāra, là sinh hoạt liên tục của tâm trên đối tượng. Quan sát, dò xét (anumajjana) là đặc tính chánh yếu của Vicāra. Vitakka thường được dịch là Tầm, và Vicāra là Sát, hay Tứ. Vicāra cũng là một chi thiền. Chi thiền Sát nầy khắc phục triền cái hoài nghi (Vicikicchā). III.2.3. Xác Ðịnh (Adhimokkha). "Adhi" + căn "muc", phóng thích. Nghĩa trắng của danh từ là "phóng thích để đến". Adhimokkha phóng thích tâm ra khỏi hoài nghi để tiến đến đối tượng. Ðặc tính chánh yếu của Adhimokkha là xác định, chọn lọc, và nghịch nghĩa của danh từ là hoài nghi, bất định. Có nơi dịch danh từ nầy là Thắng Giải. Có sự quả quyết khẳng định "đúng hẳn là cái nầy" (imam' evā'ti sanniṭṭhānakaraṇaṁ). III.2.4. Tinh Tấn (Vīriya) Xuất nguyên từ căn "aj" có nghĩa đi + "īr". "Vī" thay thế "aj". Vīra là người chuyên cần nỗ lực hoàn thành công việc của mình một cách liên tục. Viriya được định nghĩa là trạng thái, hay hành động, của người cương quyết Sách Atthasālini viết rằng Viriya, Tinh Tấn, phải được xem là căn nguyên của mọi thành tựu mỹ mãn. Chuyên cần, cố gắng, tận lực, tinh tấn, được xem là những danh từ sát nghĩa nhất với Viriya. III.2.5. Phỉ hay Hỷ (Pīti) Pīti: Hỷ, Phỉ lạc. Từ ngữ căn Pī nghĩa là hoan hỷ, thích thú. Ðặc tánh của Hỷ là khiến cho tâm thích thú đối tượng. Sở hữu Hỷ còn được gọi là pháp Hỷ. Có 5 loại Hỷ là: Tiểu Ðản Hỷ (Khuddaka pīti): sự hoan hỷ làm nổi da gà. Sát na Hỷ (Khanika pīti): Sự hoan hỷ khởi lên nhanh như chớp. Hải triều Hỷ (Okkantika pīti): Sự hoan hỷ dâng lên như sóng tạc vào bờ. Khinh thăng Hỷ (Ubbega pīti): Sự hoan hỷ một cách nhẹ nhàng, khiến thân có thể bay bổng lên được. Sung mãn Hỷ (Pharana pīti): Sự hoan hỷ thấm nhuần cả toàn thân như nước lụt tràn bờ. III.2.6. Dục, ý-muốn-làm (Chanda). Xuất nguyên từ căn "chad", mong ước, muốn. Có ba loại Chanda, Dục, là: Kāmachanda, tham dục, là khát vọng duyên theo lục trần, một trong năm pháp Triền Cái (Nīvaraṇa). Ðây là một loại tâm bất thiện. Kattukamyatā Chanda, chỉ là "ý muốn làm" suông. Không có tánh cách đạo đức. Dhammacchanda, ý muốn chân chánh. Chính ý muốn chân chánh nầy thúc giục Hoàng Tử Siddhattha từ bỏ những dục lạc của đời vương giả. Người Phật tử có Dhammacchanda, ý muốn chân chánh, để chứng ngộ Niết Bàn. Ðây không phải là tham ái. III.3. Mười bốn tâm sở Bất thiện (Akusalacetasika) III.3.1. Si (Moha) Xuất nguyên từ căn "muh", mê mờ, lầm lạc. Nghịch nghĩa của Moha, si, là Paññā, trí tuệ. Ðặc tính chánh của Moha là lẫn lộn, không thấy rõ bản chất của sự vật. Moha như đám mây mờ, bao phủ tri kiến của ta liên quan đến Nghiệp và Tứ Diệu Ðế. III.3.2. Vô Tàm (Ahirika) Ahirika là một danh từ trừu tượng được cấu hợp do "a" + "hirika", có nghĩa không hổ thẹn, Vô Tàm. Người không hổ thẹn khi làm điều bất thiện là ahiriko. Người có tâm Hiri (hổ thẹn) sẽ chùng bước, thối lui, trước hành động bất thiện. III.3.3. Vô Quý (Anottapa) "Na" + "ava" + căn "tapp", bứt rứt, dày vò. Ottappa là sợ làm điều bất thiện, tức sợ hậu quả của hành động bất thiện. Hiri (Hổ Thẹn) phát sanh từ bên trong, và Ottappa từ bên ngoài, do ngoại cảnh. Hiri và Ottappa được xem là hai yếu tố chi phối thế gian rất quan trọng. Thiếu hai yếu tố nầy không có xã hội văn minh nào có thể tồn tại. III.3.4. Phóng Dật (Uddhacca) "U" = trên, phía trên + căn "Dhu" = chao động, rung chuyển. Uddhutassa bhāvo Uddhuccaṁ = Uddhaccaṁ = trạng thái phun lên. Uddhacca được ví như trạng thái chao động của một đống tro khi người ta ném đá vào. Ðó là trạng thái tâm chao động, và phản nghĩa là trạng thái tâm an trụ. Khi được xem như một trong năm triền cái (Nivārana, chướng ngại tinh thần), tâm Phóng Dật đối chiếu với chi thiền "Lạc". III.3.5. Tham (Lobha) Tâm là biết cảnh, Tham là ham muốn. Tâm tham là trạng thái tâm biết cảnh với tư cách ham muốn, bị thu hút bởi đối tượng khả ái. Bộ Atthakathā giải rằng: Cittaṃ lubhatiti lobha cittaṃ = Tâm ái nhiểm gọi là tâm tham. Như vậy ta có thể nói tâm tham là sự bị cảnh thu hút, dính mắc đối tượng, và đối tượng của tâm tham là cảnh khả ái, cũng như đặc tánh của nam châm là hút sắt, thép, ... và những gì bị nam châm hút thì là chất kim loại. Tâm tham được chia làm 8 thứ, căn cứ vào 3 phương diện: Thọ: Thọ hỷ hay thọ xã Tương ưng: Hợp tà hay ly tà Trợ: Hữu trợ hay vô trợ III.3.6. Tà Kiến (Diṭṭhi). Nên ghi nhận sự khác biệt giữa Moha, Si, và Diṭṭhi, Tà Kiến. Tâm Si Mê che lấp, làm mờ đối tượng giống như một đám mây bao phủ. Diṭṭhi liên quan đến quan kiến nhất định, khư khư cố chấp vào ý tưởng của mình III.3.7. Ngã Mạn (Māna): Là kiêu ngạo, tự đắc, tự phụ; lúc nào cũng cho mình hơn người. Từ ngữ căn Man: kiêu ngạo, tự đắc, hay so sánh mình với kẻ khác. So sánh mình với người gọi là Ngã Mạn (Seyyomasmīti ādinā maññatīti: Mano). Chơn tướng của sở hữu Ngã Mạng là cách kiêu căn, tự phụ. Phận sự của sở hữu Ngã Mạng là làm cho được lừng lẩy. Sự thành tựu của sở hữu Ngã Mạng là cống cao, tự kiêu. Nhân cần thiết của sở hữu Ngã Mạng là phải có đối tượng để so sánh. III.3.8. Sân (Dosa): Từ ngữ căn Dus: phật ý, không bằng lòng. Khi có cảnh trái ý, nghịch lòng thì tâm Sân hay khởi lên. Nếu tâm Tham là sự gom vào, sự ôm ấp, gìn giữ đối tượng thì trái lại tâm Sân là sự đẩy ra, sự phá hoại, hủy diệt đối tượng. Sự hung ác, độc hại ... gọi là Sân (Saya meva dussatīti: doso). Sân là một trong ba căn bản phiền não. Chơn tướng của sở hữu Sân là cách nóng nảy, thô tháo. Phận sự của sở hữu Sân là làm cho tâm ta và tâm người nóng phừng lên. Sự thành tựu của sở hữu Sân là phá hoại. Nhân cần thiết của sở hữu Sân là cảnh bất như ý (do tác ý sai lầm). III.3.9. Ganh Tị (Issā). Xuất nguyên từ "i" + căn "su", đố kỵ, ganh ghét, tật đố. Ðặc tính của Issā là ganh tị sự thành công và thạnh vượng của người khác. Như vậy có tánh cách khách quan, bắt nguồn từ bên ngoài chủ thể. III.3.10- Xan Tham (Macchariya). Macchariyassa bhāvo là trạng thái của người bỏn xẻn keo kiết. Ðặc tính của Macchariya là che đậy, dấu kín sự thạnh vượng của mình. Ngược lại với Issā, Macchariya có tánh cách chủ quan, bắt nguồn từ bên trong chủ thể. Cả hai, Issā (Ganh Tị) và Macchariya (Xan Tham, Bỏn Xẻn) đều được xem là bạn của Dosa (Sân), bởi vì mỗi khi Issā và Machariya khởi sanh là có Dosa. III.3.11. Lo Âu (Kukkucca). Kukatassa bhāvo = kukkuccaṁ = trạng thái của người bồn chồn lo âu, hối hận vì đã có hành động sai lầm. Kukkucca (Lo Âu) là một trong năm pháp Triền Cái (Nivāraṇa) và đi chung với Uddhacca (Phóng Dật). Kukkucca chỉ liên quan đến quá khứ. Theo Tạng Luật, Kukkucca là tâm hoài nghi trong sạch về Giới Luật. Theo Tạng Diệu Pháp trái lại, Kukkucca là hối tiếc, làm cho tâm bất an, và như vậy nên tránh. III.3.12. Hôn Trầm (Thīna). Xuất nguyên từ căn "the", co rút lại + "na". Thena = thāna = thīna. Thīna là trạng thái tâm co rút lại, thối lui, giống như lông gà trước ngọn lửa. Thīna (Hôn Trầm) nghịch nghĩa với Viriya (Tinh Tấn). Thīna được giải thích là Citta-gelaññaṁ, trạng thái tâm ươn yếu bệnh hoạn. Như vậy, Thīna đối nghịch với Cittakammaññatā, trạng thái nhu thuận của tâm, một trong các tâm sở Ðẹp (Sobhana cetasika, Tịnh Quang, hay Tịnh Hảo tâm sở). III.3.13. Dã dượi, hay Thụy Miên (Middha). Xuất nguyên từ căn "middh", không hoạt động, không có phản ứng, không có khả năng. Ðây là trạng thái uể oải, ươn yếu, dã dượi, của tâm sở. Cả hai -Thīna (Hôn Trầm) và Middha (Thụy Miên) luôn luôn đi chung - là một trong năm pháp Triền Cái (Chướng Ngại Tinh Thần). Chi thiền Vitakka (Tầm) khắc phục Chướng Ngại nầy. Middha (Thụy Miên) cũng nghịch nghĩa với Viriya (Tinh Tấn). Nơi nào có Thīna và Middha thì không có Viriya. III.3.1. Si (Moha) Xuất nguyên từ căn "muh", mê mờ, lầm lạc. Nghịch nghĩa của Moha, si, là Paññā, trí tuệ. Ðặc tính chánh của Moha là lẫn lộn, không thấy rõ bản chất của sự vật. Moha như đám mây mờ, bao phủ tri kiến của ta liên quan đến Nghiệp và Tứ Diệu Ðế. III.3.2. Vô Tàm (Ahirika) Ahirika là một danh từ trừu tượng được cấu hợp do "a" + "hirika", có nghĩa không hổ thẹn, Vô Tàm. Người không hổ thẹn khi làm điều bất thiện là ahiriko. Người có tâm Hiri (hổ thẹn) sẽ chùng bước, thối lui, trước hành động bất thiện. III.3.3. Vô Quý (Anottapa) "Na" + "ava" + căn "tapp", bứt rứt, dày vò. Ottappa là sợ làm điều bất thiện, tức sợ hậu quả của hành động bất thiện. Hiri (Hổ Thẹn) phát sanh từ bên trong, và Ottappa từ bên ngoài, do ngoại cảnh. Hiri và Ottappa được xem là hai yếu tố chi phối thế gian rất quan trọng. Thiếu hai yếu tố nầy không có xã hội văn minh nào có thể tồn tại. III.3.4. Phóng Dật (Uddhacca) "U" = trên, phía trên + căn "Dhu" = chao động, rung chuyển. Uddhutassa bhāvo Uddhuccaṁ = Uddhaccaṁ = trạng thái phun lên. Uddhacca được ví như trạng thái chao động của một đống tro khi người ta ném đá vào. Ðó là trạng thái tâm chao động, và phản nghĩa là trạng thái tâm an trụ. Khi được xem như một trong năm triền cái (Nivārana, chướng ngại tinh thần), tâm Phóng Dật đối chiếu với chi thiền "Lạc". III.3.5. Tham (Lobha) Tâm là biết cảnh, Tham là ham muốn. Tâm tham là trạng thái tâm biết cảnh với tư cách ham muốn, bị thu hút bởi đối tượng khả ái. Bộ Atthakathā giải rằng: Cittaṃ lubhatiti lobha cittaṃ = Tâm ái nhiểm gọi là tâm tham. Như vậy ta có thể nói tâm tham là sự bị cảnh thu hút, dính mắc đối tượng, và đối tượng của tâm tham là cảnh khả ái, cũng như đặc tánh của nam châm là hút sắt, thép, ... và những gì bị nam châm hút thì là chất kim loại. Tâm tham được chia làm 8 thứ, căn cứ vào 3 phương diện: Thọ: Thọ hỷ hay thọ xã Tương ưng: Hợp tà hay ly tà Trợ: Hữu trợ hay vô trợ III.3.6. Tà Kiến (Diṭṭhi). Nên ghi nhận sự khác biệt giữa Moha, Si, và Diṭṭhi, Tà Kiến. Tâm Si Mê che lấp, làm mờ đối tượng giống như một đám mây bao phủ. Diṭṭhi liên quan đến quan kiến nhất định, khư khư cố chấp vào ý tưởng của mình III.3.7. Ngã Mạn (Māna): Là kiêu ngạo, tự đắc, tự phụ; lúc nào cũng cho mình hơn người. Từ ngữ căn Man: kiêu ngạo, tự đắc, hay so sánh mình với kẻ khác. So sánh mình với người gọi là Ngã Mạn (Seyyomasmīti ādinā maññatīti: Mano). Chơn tướng của sở hữu Ngã Mạng là cách kiêu căn, tự phụ. Phận sự của sở hữu Ngã Mạng là làm cho được lừng lẩy. Sự thành tựu của sở hữu Ngã Mạng là cống cao, tự kiêu. Nhân cần thiết của sở hữu Ngã Mạng là phải có đối tượng để so sánh. III.3.8. Sân (Dosa): Từ ngữ căn Dus: phật ý, không bằng lòng. Khi có cảnh trái ý, nghịch lòng thì tâm Sân hay khởi lên. Nếu tâm Tham là sự gom vào, sự ôm ấp, gìn giữ đối tượng thì trái lại tâm Sân là sự đẩy ra, sự phá hoại, hủy diệt đối tượng. Sự hung ác, độc hại ... gọi là Sân (Saya meva dussatīti: doso). Sân là một trong ba căn bản phiền não. Chơn tướng của sở hữu Sân là cách nóng nảy, thô tháo. Phận sự của sở hữu Sân là làm cho tâm ta và tâm người nóng phừng lên. Sự thành tựu của sở hữu Sân là phá hoại. Nhân cần thiết của sở hữu Sân là cảnh bất như ý (do tác ý sai lầm). III.3.9. Ganh Tị (Issā). Xuất nguyên từ "i" + căn "su", đố kỵ, ganh ghét, tật đố. Ðặc tính của Issā là ganh tị sự thành công và thạnh vượng của người khác. Như vậy có tánh cách khách quan, bắt nguồn từ bên ngoài chủ thể. III.3.10- Xan Tham (Macchariya). Macchariyassa bhāvo là trạng thái của người bỏn xẻn keo kiết. Ðặc tính của Macchariya là che đậy, dấu kín sự thạnh vượng của mình. Ngược lại với Issā, Macchariya có tánh cách chủ quan, bắt nguồn từ bên trong chủ thể. Cả hai, Issā (Ganh Tị) và Macchariya (Xan Tham, Bỏn Xẻn) đều được xem là bạn của Dosa (Sân), bởi vì mỗi khi Issā và Machariya khởi sanh là có Dosa. III.3.11. Lo Âu (Kukkucca). Kukatassa bhāvo = kukkuccaṁ = trạng thái của người bồn chồn lo âu, hối hận vì đã có hành động sai lầm. Kukkucca (Lo Âu) là một trong năm pháp Triền Cái (Nivāraṇa) và đi chung với Uddhacca (Phóng Dật). Kukkucca chỉ liên quan đến quá khứ. Theo Tạng Luật, Kukkucca là tâm hoài nghi trong sạch về Giới Luật. Theo Tạng Diệu Pháp trái lại, Kukkucca là hối tiếc, làm cho tâm bất an, và như vậy nên tránh. III.3.12. Hôn Trầm (Thīna). Xuất nguyên từ căn "the", co rút lại + "na". Thena = thāna = thīna. Thīna là trạng thái tâm co rút lại, thối lui, giống như lông gà trước ngọn lửa. Thīna (Hôn Trầm) nghịch nghĩa với Viriya (Tinh Tấn). Thīna được giải thích là Citta-gelaññaṁ, trạng thái tâm ươn yếu bệnh hoạn. Như vậy, Thīna đối nghịch với Cittakammaññatā, trạng thái nhu thuận của tâm, một trong các tâm sở Ðẹp (Sobhana cetasika, Tịnh Quang, hay Tịnh Hảo tâm sở). III.3.13. Dã dượi, hay Thụy Miên (Middha). Xuất nguyên từ căn "middh", không hoạt động, không có phản ứng, không có khả năng. Ðây là trạng thái uể oải, ươn yếu, dã dượi, của tâm sở. Cả hai -Thīna (Hôn Trầm) và Middha (Thụy Miên) luôn luôn đi chung - là một trong năm pháp Triền Cái (Chướng Ngại Tinh Thần). Chi thiền Vitakka (Tầm) khắc phục Chướng Ngại nầy. Middha (Thụy Miên) cũng nghịch nghĩa với Viriya (Tinh Tấn). Nơi nào có Thīna và Middha thì không có Viriya. Middha được giải thích là Kāya-gelañña, trạng thái ươn yếu của "cơ thể tinh thần". III.3.14. Hoài Nghi (Vicikicchā). Là sự nghi hoặc, không tin sự thật. Từ ngữ căn Vici là tìm hiểu, Kicchati là chán nản, mệt mỏi; vậy Hoài Nghi là chán nản trong việc tìm hiểu (vì không có kết quả). Hay Vi: không; Cikicchā: thuốc đối trị. Vậy Vicikichā có nghĩa là hết thuốc chữa. Thuốc chữa ở đây là Tri Kiến chơn chánh. Pāli có chú giải "Vicikicchātīti = do dự là hoài nghi". Chơn tướng của sở hữu Hoài Nghi là cách nghi hoặc. Phận sự của sở hữu Hoài Nghi là làm cho lưởng lự, phân vân. Sự thành tựu của sở hữu Hoài Nghi là không thể quyết đoán. Nhân cần thiết của sở hữu Hoài Nghi là không khéo dùng tâm. Khi là một Chướng Ngại Tinh Thần Vicikicchā không có nghĩa là hoài nghi Phật, Pháp, Tăng v.v... III.4. Hai mươi lăm tâm sở Tịnh quang (Sobhanacetasika) III.4.1. 19 Tâm sở thiện III.4.1.1. Tín (Saddhā). "Saṁ", tốt đẹp + căn "dah", thiết lập, đặt lên, để trên. Danh từ Saṁskrt Sraddhā gồm "Srat", đức tin + "dhā", thiết lập. Theo Pāli, Saddhā là niềm tin thiết lập vững chắc đặt nơi Ðức Phật, Giáo Pháp và Giáo Hội Tăng Già. Saddhā (Tín) ở đây không phải là đức tin mù quáng mà là niềm tin tưởng, tín nhiệm, căn cứ trên sự hiểu biết. III.4.1.2. Niệm (Sati) Do căn "sar", hồi nhớ. Sati (Niệm), không chính xác tương đương với quan niệm về trí nhớ của người Tây Phương. Trạng thái chú tâm gần với Sati. Sự chú tâm ghi nhận, hay Niệm, cần phải được trau giồi và phát triển. Kinh Niệm Xứ, Satipaṭṭhāna Sutta, có mô tả với đầy đủ chi tiết nhiều phương pháp khác nhau để phát triển tâm sở Niệm nầy. Khi phát triển Sati (Niệm) đến mức cao độ hành giả có thể thành đạt khả năng nhớ lại nhiều kiếp sống quá khứ. Chính Sati nầy được xem là một trong tám chi của Bát Chánh Ðạo - Chánh Niệm. III.4.1.3. Tàm (Hiri) Là tâm biết hỗ thẹn khi làm lỗi, ngược lại với tâm Vô Tàm. III.4.1.4. Quý (Ottappa). Thẹn với người. Đây ngược với tâm Vô quý. III.4.1.5. Không-Tham (Alobha). Alobha phản nghĩa với Lobha (Tham). Alobha (Không-Tham) bao hàm ý nghĩa Dāna, là lòng quảng đại, hạnh bố thí. Alobha là một phẩm hạnh tích cực liên quan đến lòng vị tha. Alobha (Không-Tham) là một trong ba căn Thiện. Giống như giọt nước trên lá sen, lăn trôi đi mà không dính mắc, đặc tính chánh của Alobha là buông bỏ, từ khước, không đeo níu vật gì. III.4.1.6. Không-Sân (Adosa). Adosa là phản nghĩa của Dosa (Sân). Adosa (Không-Sân) không phải chỉ là không có lòng sân hận hay không bất toại nguyện, mà còn là một phẩm hạnh tích cực. Adosa (Không-Sân) đồng nghĩa với Mettā (tâm Từ), một trong bốn phẩm hạnh cao thượng vô lượng vô biên, Tứ Vô Lượng Tâm. Adosa (Không-Sân) cũng là một trong ba căn thiện. Giống như một người bạn lành dễ chịu Adosa có đặc tính chánh là không gắt gỏng, không nặng lời (caṇḍikka). III.4.1.7. Xả, tâm quân bình (Tatramajjhattatā) Theo đúng căn nguyên, "tatra" = ở đó, tức đối với đối tượng. "majjhattatā" = ở khoảng giữa, tức không thiên về bên nào, quân bình. Ðặc tính chánh yếu của Tatramajjhattatā là nhìn đối tượng một cách vô tư, không thiên vị. Tatramajjhattatā như người đánh xe, nhìn đồng đều vào cặp ngựa đã được huấn luyện thuần thục. Tatramajjhattatā nầy đuợc xem là tâm Xả (Upekkhā) về cả hai phương diện, trí thức và đạo đức. III.4.1.8. Tâm sở vắng lặng (Kāya Passaddhi). Passaddhi gồm "pa" + căn "sambh" làm cho an tĩnh, yên lặng. Passaddhi là trạng thái an tĩnh, yên lặng, tự tại. Ðặc tính chánh của Passaddhi là tiêu trừ, hay làm giảm dịu tình trạng nóng bỏng của dục vọng (Kilesa- daratha-vūpasama). Passaddhi như tàn bóng mát mẻ của một cội cây đối với người đi đường đang bị nắng thiêu đốt. Passaddhi nghịch nghĩa với Uddhacca, phóng dật, trạng thái tâm bị khích động. Khi được phát triển đến cao độ Passaddhi trở thành một trong Thất Giác Chi (Bojjhaṅga). III.4.1.9. Tâm vắng lặng (Citta Passaddhi). Giống phần 8. III.4.1.10. Tâm sở Khinh An (Kāya Lahutā) Trạng thái nhẹ nhàng của tâm sở và trạng thái nhẹ nhàng của tâm vương. Xuất nguyên từ "Laghu", có nghĩa nhẹ, mau. (Saṅskrt Laghutā). Lahutā là trạng thái nhẹ nhàng, thư thái. Tiêu trừ trạng thái nặng nề của tâm và của tâm sở là đặc tính chánh yếu của Lahutā. Lahutā ví như đặt gánh nặng xuống, nghịch nghĩa với Thīna và Middha, hôn trầm và thụy miên, làm cho tâm sở và tâm nặng nề, thô cứng. III.4.1.11. Tâm Khinh An (Citta Lahutā). Giống phần 9. III.4.1.12. Tâm sở Nhu Thuận (Kāya Mudutā ). Trạng thái mềm dẻo của tâm sở và của tâm vương. Ðặc tính chánh của Mudutā là tiêu trừ trạng thái thô cứng và đề kháng. Mudutā làm mất đi tính cách thô cứng và làm cho tâm trở thành mềm dẻo, nhu thuận để tiếp nhận đối tượng. Mudutā được ví như một tấm da có thấm dầu và nước đầy đủ, trở nên mềm dẻo và có thể được xử dụng dễ dàng. Mudutā nghịch nghĩa với tà kiến và ngã mạn (Diṭṭhi và Māna). Hai tâm sở sau nầy làm tâm thô cứng, không mềm dẻo, khó xử dụng. III.4.1.13. Tâm Nhu Thuận (Citta Mudutā) Giống phần 12. III.4.1.14. Tâm Sở Thích Ứng (Kāya-Kammāññatā). Trạng thái thích ứng của tâm sở và trạng thái thích ứng của tâm vương. "Kamma" + "nya" + "tā" = Kammanyatā = Kammaññatā. Ðúng căn nguyên của danh từ, là trạng thái dễ xử dụng, hay tình trạng có thể dùng. Ðặc tính chánh của Kammaññatā là tiêu trừ trạng thái không dùng được, khó xử dụng, của tâm sở và của tâm vương. Kammaññatā ví như kim khí đã được đốt nóng, muốn uốn nắn thế nào cũng được. Kammaññatā nghịch nghĩa với tất cả các chướng ngại tinh thần còn lại (tức tham dục, oán ghét và hoài nghi). III.4.1.15. Tâm Thích Ứng (Citta-Kammaññatā). Giống phần 14. III.4.1.16. Tâm sở tinh luyện (Kāya-Pāguññatā). Trạng thái tinh luyện của tâm sở và trạng thái tinh luyện của tâm vương. Ðây là trạng thái tinh luyện, thuần thục. Ðặc tính chánh của nó là tiêu trừ tình trạng ươn yếu bệnh hoạn của tâm và các tâm sở. Nghịch nghĩa của Paguññatā là những khát vọng như thiếu niềm tin v.v... III.4.1.17. Tâm tinh luyện (Citta-Pāguññatā). Giống phần 16 III.4.1.18. Tâm sở Chánh Trực (Kāyujjukatā ). Trạng thái ngay thẳng của tâm sở và trạng thái ngay thẳng của tâm vương. Ðây là trạng thái chánh trực, ngay thẳng, nghịch nghĩa với trạng thái xuyên vẹo, quanh co, khuất khúc, lừa phỉnh, mưu mẹo, Ðặc tính chánh của trạng thái nầy là ngay thẳng. III.4.1.19. Tâm Chánh Trực (Cittujjukatā). III.4.2. 3 Tâm sở tiết chế (Virati) "Vi" + căn "ram", thỏa thích trong. Virati là tiết chế, thỏa thích trong sự kiêng cữ.Theo sách Atthasālini có ba loại Virati (Tiết Chế): Sampatta-Virati, Samādāna-Virati, và Samuccheda-Virati. Sampatta-Virati là kiêng cữ, tránh làm điều bất thiện vì nghĩ đến tông môn, đến tuổi tác, giáo dục v.v... của mình. Samādāna-Virati là kiêng cữ, tránh làm điều bất thiện vì đó là vi phạm giới luật mà mình đã tự nguyện nghiêm trì. Thí dụ như người Phật tử kiêng cữ, không sát sanh, trộm cắp v.v... để giữ tròn ngũ giới. III.4.2.1. Chánh Ngữ (Sammavaca) Không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác và không nói ỷ ngữ III.4.2. 2. Chánh mạng (Samma ajivo) Tránh năm nghề nuôi mạng khả dĩ: Không bán thuốc độc, không bán rượu, không bán vũ khí, không bán nô bọc (Nô lệ), không bán loài vật để sát sanh. III.4.2. 3. Chánh nghiệp (Samma kammanto) Không sát sanh không trộm cắp và không tà dâm. III.4.3. 2 Tâm sở vô lượng (Appamaññā) Vì có đối tượng nhiều vô số kể nên tâm sở nầy được gọi là Vô Lượng, Appamaññā, không có giới hạn (Saṅskrt Aprāmānya). Cũng đuợc gọi là Brahma Vihāra, Những Nếp Sống Cao Thượng. Mettā (Từ), Karuṇā (Bi), Muditā (Hỷ), và Upekkhā (Xả) là bốn tâm Vô Lượng ấy. Như đã giải thích ở phần trên Mettā (Từ) đã được bao hàm trong Adosa (Không-Sân), và Upekkhā (Xả) trong Tatramajjhattatā (Tâm Quân Bình). Do đó ở đây chỉ ghi nhận có hai tâm sở. III.4.3.1. Bi (Karuṇā). Căn "Kar", làm ra, chế tạo + "uṇa". Cái gì làm rung động trái tim của người hiền lương nhân đức trước cảnh ưu phiền của kẻ khác là Karuṇā (Bi). Cái gì làm tan biến nổi đau khổ của kẻ khác là Karuṇā (Bi). Ðặc tính chánh yếu của Karuṇā (Bi) là lòng mong muốn giải trừ nổi khổ đau của người khác. Kẻ thù trực tiếp của Karuṇā là Hiṁsā (tánh Hung Bạo), và kẻ thù gián tiếp là Domanassa (Ưu Phiền). Karuṇā bao gồm những chúng sanh đau khổ. Karuṇā loại bỏ những tư tưởng hung bạo. III.4.3.2. Hỷ (Muditā). Xuất nguyên từ căn "mud", hoan hỷ, bằng lòng. Muditā (Hỷ), không phải là thiện cảm suông, mà là trạng thái hoan hỷ có tánh cách tán dương, vui vẻ ngợi khen. Kẻ thù trực tiếp của tâm Hỷ là ganh tỵ, và kẻ thù gián tiếp là vui mừng rối rít (Pahāsa). Ðặc tính chánh của Muditā là hoan hỷ ghi nhận sự thạnh vượng của kẻ khác (Anumodanā). Tâm Hỷ bao gồm các chúng sanh thạnh vượng, là thái độ ngợi khen. Hỷ loại trừ sự ghét bỏ (Arati). III.4.4. 1 Tâm sở tuệ căn (Paññindriya) "Pa" = chân chánh, đúng; "ñā", hiểu biết. Paññā là hiểu biết chân chánh, biết đúng. Ðặc tính chánh của Paññā là thấu đạt thực tướng, hay hiểu biết thông suốt, tức hiểu biết thấu đáo, xuyên thấu (Yathāsabhāva-paṭivedho vā akkhalita-paṭivedho). Vì Paññā nổi bật và chiếm phần lớn trong sự hiểu biết bản chất thật sự, và bởi vì Paññā khắc phục vô minh nên được gọi là khả năng kiểm soát (Indriya, Căn). Trong Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma) những danh từ Ñāṇa, Paññā và Amoha thường được dùng như đồng nghĩa. Trong các loại tâm liên hợp với tri kiến (Ñāṇa-sampayutta), danh từ "tri kiến" hay Ñāṇa có nghĩa là trí tuệ (Paññā). Trong Tứ Thần Túc (Iddhipāda), Paññā có tên là Vīmaṁsā (theo đúng nghĩa trắng là quan sát, quán trạch). Khi được tâm Ðịnh (Samādhi) thanh lọc, Paññā đảm nhiệm vai trò danh dự của Abhiññā (diệu trí, tri kiến cao siêu, hay thần thông). Phát triển cao hơn nữa, Paññā được nâng lên đến trạng thái của một Bojjhaṅga-Dhamma-Vicaya (Trạch Pháp Giác Chi, Dò Xét Chân Lý), và đến Maggaṅga-Sammā Diṭṭhi, Chánh Kiến của Bát Chánh Ðạo. Mức cùng tột của Paññā là trạng thái Toàn Giác của một vị Phật. Ðúng theo nghĩa của danh từ, Paññā là thấy sự vật đúng như thật, thấy thực tướng của sự vật, tức thấy sự vật dưới ánh sáng của Anicca (Vô Thường), Dukkha (Khổ), và Anattā (Vô Ngã). C. Kết luận Abhidhamma đề cập cả danh và sắc, hai thành phần tâm linh và vật chất cấu tạo guồng máy phức tạp của con người, đều được phân tích rất tỉ mỉ. Những diễn tiến chánh yếu liên quan đến tiến trình sanh và tử đều được giải thích tường tận. Những điểm phức tạp và khó hiểu trong Giáo Pháp đều được soi sáng tường tận, chỉ rõ con đường đi đến giải thoát hoàn toàn. Vi Diệu Pháp là tạng kinh bí yếu, đứng về gốc độ chân đế để lột tả mọi hình thái của tâm một cách rõ ràng, tỉ mỉ, chính xác, lô gíc, khoa học. Chỉ một cách cụ thể về tâm, một phạm trù khó nắm bắt, khó hình dung và rất khó hiểu. Bài viết này nhằm hệ thống lại một số vấn đề cơ bản, một phần nhỏ của Vi Diệu Pháp là Tâm sở . Qua đó chúng ta có thể hiểu một cách khái quát về Tâm sở hiểu biết được nó ta mới có thể chuyển hóa nó.Là người hậu học còn quá sơ cơ trên con đường tìm về bảo sở. Nhưng may mắn thay là được thừa hưởng một gia tài vô giá mà đức Phật đã để lại đó là một bức hoạ đồ về chân hạnh phúc. Ước mong sao những lời dạy của Đức Phật trong tập Vi Diệu Pháp sẽ là ngọn đuốc rực rỡ soi sáng dẫn đường, là ngón tay chỉ hướng cho mọi hành động, ngôn ngữ, tâm tư của người đọc và do đó đem lại an lạc và hạnh phúc. Tự mình nghe theo lời Phật dạy mà tu sửa, rồi tự mình sẽ giác ngộ và sự giác ngộ đó sẽ giúp cho mình được giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử đầy khổ đau. Niết Bàn yên vui tươi sáng đang chờ chúng ta. Chúng ta mỗi ngày cố gắng đi một chút chắc chắn thế nào cũng sẽ tới đích, cũng sẽ thành công. Tài liệu tham khảo ---o0o--- 1. HT Minh Châu (dịch), Thắng Pháp Tập Yếu Luận, nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2005.2. Thích Thiện Minh - Cư Sĩ Đức Tài, Tự Học Vi Diệu Pháp, NXB Tổng Hợp TP HCM, 2007.3. Thích Giác Chánh, Vi Diệu Pháp Nhập Môn, Lưu hành nội bộ.4. Thích Chánh Minh, Tâm Vấn Đáp, nxb.Tôn Giáo, Hà Nội, 2006.5. HT. Thích Minh Châu, Tăng chi bộ kinh II, Viện NCPHVN, 1967, 1996.6. Kinh Pháp Cú, HT. Thích Minh Châu dịch, 1996, Website: Quangduc.com.7. Sư Cô Trí Hải dịch, VISUDDHIMAGGA (Thanh Tịnh Đạo), nxb. Đai Học Quốc Gia, Hà Nội, 2001.8. Nārada Mahā Thera, Phạm Kim Khánh dịch, Vi Diệu Pháp Toát Yếu, Website: Quangduc.com.9. HT. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, nxb. Tôn Giáo, 1999.

Tác giả bài viết: Theo trai tim tu bi

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Share |
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin Được Quan Tâm Nhiều

Tập San Đuốc Sen

Chia Sẻ Cùng Bạn Đọc

Tổ Sư Minh Đăng Quang

TO SU

Hình Ảnh Tịnh Xá Ngọc Sơn

Tinh Xá Ngọc Sơn

slideshow | Viewer

Quảng Cáo

Giác Ngộ
Đức Phật Bổn Sư
Học Viện Phật Giáo Việt Nam
đạo phật ngày nay
HT Trụ Trì Tịnh xá Ngọc Sơn
SU PHU THICH GIAC TRÍ

Bạn nghe thuyết pháp thường xuyên không?

Chưa nghe bao giờ

Một hai lần gì đó

Một lần vào lễ Phật đản

Ba bốn lần trong 1 năm

Một lần trong 1 tháng

Hai lần trong tháng

Một lần trong tuần

Nghe nhiều lần trong tuần

Liên Hệ Online

Ban Biên Tâp

Đông Hồ

Bảng Tin Thời Tiết

Đang truy cậpĐang truy cập : 16


Hôm nayHôm nay : 614

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 31497

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4372279